Kỹ thuật trồng và xử lý nhãn Ido ra hoa

Kỹ thuật trồng và xử lý nhãn Ido ra hoa

I. Mở đầu

Nhãn E daw  là giống nhãn nổi tiếng của Thái Lan. Diện tích trồng nhãn Edaw chiếm hơn 70% diện tích trồng nhãn ở Thái Lan; Nhãn Edaw có năng suất và phẩm chất cao, được du nhập vào Việt Nam trong thập niên 90 nhưng là giống thích hợp với điều kiện Châu Á nhiệt đới nên không ra hoa tự nhiên trong điều kiện thời tiết nhiệt đới như ở Đồng Bằng Sông Cửu Long. Gần đây nhờ biện pháp sử dụng chlorate kali (KClO3) để kích thích ra hoa và tỏ ra có hiệu quả nên nông dân bắt đầu phát triển trở lại giống nhãn nầy. Nhãn Edaw sinh trưởng mạnh, dễ đậu trái, năng suất cao, đặc biệt là nhiễm bệnh chổi rồng nhẹ.

Vì vậy, Nhãn Edaw có triển vọng thay thế nhãn tiêu da bò để khắc phục thiệt hại do bệnh trổi rồng gây ra. Tuy vậy, để giúp nhà vườn đạt được năng suất và chất lượng cao cần xây dựng quy trình canh tác chủ yếu là bón phân và kỹ thuật điều khiển ra hoa, tăng đậu trái và giảm rụng trái non cho nhãn Edaw.
II. Đặc điểm của nhãn Edaw
Nhãn Edaw là giống trồng phổ biến nhất và chiếm 73% diện tích nhãn của Thái Lan. Đây là giống cận nhiệt đới , được trồng tại miền bắc Thái Lan, nơi có mùa đông lạnh cần thiết cho sự ra hoa. Cây ra hoa vào tháng 12 và thu hoạch vào cuối tháng 6 đến đầu tháng 7. Với trái lớn, thịt trái dai, cơm dày và ráp nhưng không giòn.
1. Dinh dưỡng khoáng
Cây nhãn ra hoa trên chồi tận cùng, cho nên sự tạo chồi mới có ý nghĩa quyết định đến sự ra hoa. Đọt mập, đủ độ dài  thường dễ ra hoa hơn đọt ốm yếu hoặc bị sâu bệnh tấn công. Do đó vấn đề bón phân cân đối đạm, lân và kali cho cây ra đọt non tốt sau khi thu hoạch là một trong các biện pháp kỹ thuật quan trọng quyết định đến quá trình ra hoa của cây. Theo các nghiên cứu trên nhãn thì cây nhãn cần một lượng phân bón rất lớn để đáp ứng 3 – 5 đợt ra đọt và một lần ra hoa nuôi trái. Nguyên tắc bón phân là cây nhỏ bón ít, cây lớn bón nhiều, cây có sản lượng trái càng cao thì bón càng nhiều.
2. Các yếu tố ảnh hưởng lên sự ra hoa
2.1. Yếu tố ngoại sinh
a) Nhiệt độ
Trong điều kiện tự nhiên, sự ra hoa của cây nhãn phụ thuộc vào điều kiện thời tiết. Trải qua một thời gian lạnh hoặc khô hạn là điều kiện lý tưởng để cây ra hoa. Nhãn là cây cận nhiệt đới phát triển rất tốt ở vùng nhiệt đới nhưng cần có sự thay đổi mùa rõ rệt để ra hoa. Một mùa đông ngắn với nhiệt độ trung bình 15 – 220C giúp cho quá trình hình thành hoa.
b) Ẩm độ đất
Lượng mưa nhiều và ẩm độ cao tạo điều kiện thuận lợi cho cây nhãn sinh trưởng, lượng mưa cần tốt nhất cho cây nhãn từ 1.200 – 1.400 mm/tháng trong suốt giai đoạn ra hoa đến khi trái trưởng thành và sau thu hoạch, nên duy trì lớp cỏ dưới tán cây là tốt nhất. Tưới đủ nước cho cây sau một thời gian khô hạn gián tiếp giúp cây ra hoa, khi đậu trái và phát triển trái cũng cần ẩm độ thích hợp thông qua tưới nước hoặc mưa. Hạn hán hoặc mưa nhiều làm giảm kích thước trái, giảm tỷ lệ đậu trái và rụng trái trước thu hoạch.
Tùy thuộc vào tuổi cây mà người trồng nhãn cần chú ý điều chỉnh độ ẩm đất cho phù hợp.
2.2. Yếu tố nội sinh
a) Tuổi lá
Tuổi lá có liên hệ chặt chẽ với sự cảm ứng ra hoa ở cây ăn trái nhiệt đới và cận nhiệt đới. Lá non ức chế sự hình thành nụ hoa ngay cả khi nhiệt độ môi trường thuận lợi. Qua các thí nghiệm của các nhà khoa học cho thấy giai đoạn lá trưởng thành từ 40 – 45 ngày tuổi đáp ứng tốt với kích thích và cây ra hoa 100% sau 60 ngày xử lý. Lá non 10 ngày tuổi có tỷ lệ ra hoa rất thấp (5%).
Khi khảo sát về vai trò của tuổi lá lên sự đáp ứng ra hoa với sử lý với Chlorate Kali, cho thấy, thời gian cắt tỉa cành trong năm có ảnh hưởng lên sự ra hoa, điều này có liên quan đến tuổi lá là kích thước chồi. nếu chồi sinh trưởng ở tuổi còn non hoặc kích thước chồi quá dài thì sự đáp ứng ra hoa thấp khi có xử lý Chlorate Kali.
b) Các chất đồng hóa
Đạm trong lá nhãn được cho là đóng một vai trò quan trọng trong ra hoa đáp ứng lại với Chlorate Kali. Hàm lượng đạm trong lá cao hơn 1,7% sự đáp ứng ra hoa thường thấp (0 – 25%). Đạm trong lá từ 1,2 – 1,5% thường đáp ứng sự ra hoa tốt hơn nhưng tỷ lệ không cao, từ 20 – 80% .
Tỷ số C/N là một yếu tố quan trọng trong ra hoa. Hàm lượng carbohyrate cao và đạm thấp dẫn đến C/N cao giúp cho cây ra hoa, đạm cao đẫn dến tỷ lệ C/N thấp kích thích ra lá.
c) Chất điều hoà sinh trưởng
Sự gia tăng cytokinin và ethylen cùng với việc giảm auxin và gibberellin trong quá trình ra hoa. Gibberellin có xu hướng giảm trước khi ra hoa, trong khi đó cytocynin có xu hướng tiếp tục gia tăng và cao nhất tại thời điểm một tuần trước khi ra hoa, vì sau khi tưới Chlorate Kali thì có sự gia tăng hàm lượng cytocynin trong mô phân sinh chồi và lá khoảng 7 – 10 ngày trước khi ra hoa. Hàm lượng cytocynin cao, auxin và GA3 thấp là điều kiện thiết yếu cho quá trình chuyển đổi từ sinh trưởng sang ra hoa.
2.3. Chlorate Kali (KClO3)
Chlorate Kali rất có hiệu quả trên các giống nhãn cận nhiệt đới. Trên nhãn, sau khi xử lý Chlorate Kali khoảng 20 – 25 ngày nhú mầm hoa ở hầu hết các cây. Tuy nhiên có một số trường hợp không ra hoa vì loại đất, tuổi cây, nước tưới và phân bón ảnh hưởng đến sự đáp ứng ra hoa của cây nhãn khi xử lý Chlorate Kali. Nhãn trồng trên đất cát đáp ứng tốt hơn trồng trên đất sét nặng. Xử lý Chlorate Kali bằng phương pháp tưới vào đất có hiệu quả nhất trong việc kích thích ra hoa nhãn.
Hiệu quả của Chlorate Kali lên quá trình cảm ứng ra hoa trên cây nhãn  dựa trên giai đoạn phát triển của lá, lượng hóa chất, thời gian áp dụng và kết cấu đất. Liều lượng sử dụng của Chlorate Kali phụ thuộc vào kích thước và tuổi cây. Liều khuyến cáo chung là tư 5 – 10 g/m2 tán cây đối với phương pháp tưới, 1.000 – 3.000 ppm đối với phương pháp phun lên lá. Việc khoanh vỏ không làm ảnh hưởng đến vận chuyển  của Chlorate Kali, do nó vận chuyển từ rễ đến chồi thông qua mô gỗ.
III. Quy trình kỹ thuật canh tác nhãn Edaw
1. Chăm sóc sau thu hoạch:
– Sau khi thu hoạch trái xong tiến hành cắt tỉa và kết hợp tạo tán cây tròn, điều, đẹp, nhằm giúp cây hấp thu được nhiều ánh sáng và phát triển tốt.
– Sau khi cắt tỉa cành tiến hành xới gốc bón phân cho cây, loại phân N-P-K (15-20-15) cộng với Urê với tỷ lệ 2:1 bón với lượng 500g/1 cây 5 năm tuổi.
– Sau khi bón phân nên tưới nước liên tục 3 – 5 ngày giúp phân tan và ngấm sâu vào đất.            – Sau khi bón phân 5 ngày tiến hành phun thuốc hổ trợ cho cây nhằm kích thích cho cây ra đọt mạnh và đồng loạt (phun 1 viên GA3 cho 100 – 150 lít nước cộng với thuốc trừ sâu).            – Sau khi cơi đọt có từ 2 đến 4 lá, phun thuốc trừ sâu kết hợp với thuốc trừ bệnh nhằm giúp bộ lá phát triển tốt.
– Tỉa cành non: Khi cây ra đọt đồng loạt nên tỉa bỏ cành vượt, và tuyển bớt những cành yếu chỉ nên chứa lại 2 – 3 chồi non/nhánh chính.
– Khi lá cơi đọt 1 vừa chuyển san lụa, để lá trên cây già đồng loạt tiến hành phun MKP 0,5% (40g/8lít nước) phun điều tán cây vào buổi sáng hay chiều mát.
2. Kích thích cơi đọt 2:
– Sau khi phun MKP cơi đọt một từ 3 đến 5 ngày tiến hành bón phân gốc cho cây, loại phân N-P-K (20 -20-15) cộng với Urê với tỷ lệ 2:1 bón với lượng 500g/1 cây 5 năm tuổi.
– Khi cơi đọt 2 xuất hiện tiến hành phòng trừ sâu bệnh như ở cơi đọt một.
– Sau khi cơi đọt hai được 40 ngày tuổi tiến hành phun MKP 0,5% giúp lá trưởng thành đồng loạt, tiến hành kích thích cơi đọt ba.
3. Kích thích cơi đọt 3:
– Khi cơi đọt 3 xuất hiện tiến hành phòng trừ sâu bệnh như ở cơi đọt một.
– Sau khi cơi đọt 3 khoảng 29 ngày tuổi tiến hành bón phân gốc cho cây, loại phân DAP + KCl với tỷ lệ 1:1 bón với lượng 0,5 kg/cây 5 năm tuổi.
phun MKP 0,5% giúp lá trưởng thành đồng loạt, tiến hành kích thích cơi đọt 3.
Nếu trong thời gian kích thích cơi đọt ba gặp thời tiết không thuận lợi như: lạnh, mưa, nhiều cây chậm ra đọt nên phun dung dịch sau(GA3 từ 5 đến 10 ppm, pha 1 viên vào 100 – 200 lít nước kết hợp phân bón lá có hàm lượng đạm (N) cao).
* Chú ý: Cơi đọt ba rất quan trọng vì nó sẽ quyết định tỷ lệ ra hoa của cây, những cây có cơi đọt 3 tốt, ra đồng loạt thì khi kích thích ra hoa, cây sẽ ra hoa đồng loạt, hoa to khoẻ và tỉ lệ đậu trái cao.
4. Tiến hành sử lý ra hoa:
– Khi cơi đọt thứ ba chuyển sang màu xanh đọt chuối (từ 37 đến 39 ngày) phun MKP nồng độ 0,5% (40g/8 lít nước) giúp cây cho lá già đồng loạt.
– Sau khi phun MKP được từ 5 đến 7 ngày dùng cuốc ba răng xới đều xung quanh tán cây cách gốc 50 cm, tưới thuốc KClO3 với lượng 60g/1m đường kính tán. Hoà tan hết phần thuốc vào 36 – 40 lít nước, tưới đều xung quanh tán cây, sau đó tưới nước liên tục 7 ngày để giữ độ ẩm đất giúp thuốc ngấm đều vào vùng rễ cây.
– Sau khi tưới KClO3 được 5 ngày, phun tạo mầm hoa bằng MKP nồng độ 0,75% (60g/8 lít nước) và 7 ngày sau lặp lại với nồng độ 0,5%.
– Khi hoa dài 5 cm rải phân N-P-K (15-15-15) 0,75 kg/1 cây 5 năm tuổi.
– Sau khi bón phân nên tưới nước liên tục 3 – 5 ngày giúp phân tan và ngấm sâu vào đất.            – Phun thuốc trừ sâu, bệnh tấn công trên bông, chỉ phun thuốc trước khi ra hoa nở 5 – 7 ngày. Không nên phun thuốc trừ sâu, bệnh khi hoa đang nở sẽ làm rụng hoa.
5. Chăm sóc trái
– Hỗn hợp vi lượng được phun 6 lần, mỗi lần phun cách nhau 15 ngày. Thời điểm bắt đầu phun kể từ sau khi đậu trái được 15 ngày.
– Phun lần 1(15 ngày sau đậu trái): hỗn hợp vi lượng (B, Mo, Mn, Zn) với liều lượng 200, 400, 200, 800 ppm, phun ước đều tán cây (khoảng 6,5 lít dung dịch/cây).
– Bón gốc N-P-K (15-15-15) liều 1kg/cây 5 năm tuổi thời điểm 15 ngày sau khi đậu trái.
– Sau khi bón phân nên tưới nước liên tục 3 – 5 ngày giúp phân tan và ngấm sâu vào đất.            – Phun lần 2 (30 ngày sau đậu trái): hỗn hợp vi lượng (B, Mo, Mn, Zn) với liều lượng 200, 400, 200, 800 ppm, phun ước đều tán cây (khoảng 6,5 lít dung dịch/cây).
– Phun lần 3 (45 ngày sau đậu trái): hỗn hợp vi lượng (B, Mo, Mn, Zn) với liều lượng 200, 400, 200, 800 ppm, phun ước đều tán cây (khoảng 6,5 lít dung dịch/cây).
– Phun lần 4 (60 ngày sau đậu trái): hỗn hợp vi lượng (B, Mo, Mn, Zn) với liều lượng 200, 400, 200, 800 ppm, phun ước đều tán cây (khoảng 6,5 lít dung dịch/cây).
– Bón gốc N-P-K (15-15-15) liều 1kg/cây 5 năm tuổi thời điểm 60 ngày sau khi đậu trái.
– Sau khi bón phân nên tưới nước liên tục 3 – 5 ngày giúp phân tan và ngấm sâu vào đất.            – Phun lần 5 (75 ngày sau đậu trái): hỗn hợp vi lượng (B, Mo, Mn, Zn) với liều lượng 200, 400, 200, 800 ppm, phun ước đều tán cây (khoảng 6,5 lít dung dịch/cây).
            – Phun lần 6 (90 ngày sau đậu trái): hỗn hợp vi lượng (B, Mo, Mn, Zn) với liều lượng 200, 400, 200, 800 ppm, phun ước đều tán cây (khoảng 6,5 lít dung dịch/cây).
            – Bón gốc N-P-K (14-14-21) liều 1,25kg/cây 5 năm tuổi thời điểm hột có màu đen.

– Sau khi bón phân nên tưới nước liên tục 3 – 5 ngày giúp phân tan và ngấm sâu vào đất.

Lê Tấn Phong

 

Chia sẻ bài viết

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


0906194819
challenges-icon chat-active-icon